Lưu trữ Blog

CÂY SẮN VIỆT NAM

Thứ Sáu, 25 tháng 12, 2020

Bản đồ QTL tính kháng bệnh vi khuẩn cháy lá cây sắn

 Bản đồ QTL tính kháng bệnh vi khuẩn cháy lá cây sắn

Nguồn: Soto Sedano JC, Mora Moreno RE, Mathew B, Léon J, Gómez Cano FA, Ballvora A, López Carrascal CE. 2017. Major Novel QTL for Resistance to Cassava Bacterial Blight Identified through a Multi-Environmental Analysis. Front Plant Sci. 2017 Jul 5; 8:1169.

Sắn, Manihot esculenta Crantz, là loài cây lương thực quan trọng của thế giới, với hơn 1 tỷ người phụ thuộc vào cây sắn, đặc biệt ở các nước nghèo. Sản lượng sắn bị đe dọa bởi sâu bệnh hại, trong đó bệnh vi khuẩn cháy lá sắn còn gọi là CBB (cassava bacterial blight) do vi khuẩn Xanthomonas axonopodis pv. manihotis (Xam) gây ra, được xem là đối tượng làm giảm năng suất sắn nghiêm trọng bậc nhất. Người ta tìm thấy vị trí của các gen số lượng  - QTL (Quantitative Trait Loci) liên quan đến tính kháng CBB. Quần thể F1 của 117 dòng “full sibs” được khảo sát đối với tính kháng vi khuẩn thuộc chủng nòi (Xam strains): Xam 318Xam 681 thu thập tại ruộng sắn của nước Colombia: đó là La Vega, Cundinamarca và Arauca. Đánh giá được tiến hành cả trong mùa mưa và mùa khô, cộng thêm trắc nghiệm bổ sung trong điều kiện nhà lưới có kiểm soát. Kiểu hình sắn phản ứng với Xam biến thiên một cách liên tục. Phân tích QTL theo phương pháp bản đồ cách quãng (composite interval mapping), tính kháng 5 chủng nòi vi khuẩn 5; người ta xác định những QTL điều khiển tính kháng Xam có thể giải thích phương sai kiểu hình từ 15,8 đến 22,1%. Đây là cơ sở để tiếp tục phân tích kiểu gen thông qua bản đồ di truyền phân giải cao với chỉ thị SNP. Bốn trong số ấy có tính ổn định cao trong kết quả đánh giá trong cả mùa mưa và mùa khô. Phân tích tương tác kiểu gen và môi trường cho thấy   có ba QTL tương tác với môi trường; hệ số di truyền nghĩa rộng (broad sense heritability) đối với chủng nòi Xam318 là 20% và chủng nòi Xam681 là 53%. Phân tích trình tự DNA của những quãng QTL đích cho thấy có tất cả 29 QTL ứng cử viên liên quan đến gen trong hệ thống tự vệ của cây sắn (CDRGs). Hai gen mã hóa protein có những “domains” gắn liền với protein có tính miễn dịch, đó là NB-ARC-LRR và WRKY. Xem https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/28725234

 

 

 

Ảnh hưởng của “Methyl Jasmonate” (MeJA) trong sinh lý cây khoai mì

Ảnh hưởng của “Methyl Jasmonate” (MeJA) trong sinh lý cây khoai m

Nguồn: Liu GLi BLi XWei YLiu DShi H. 2019. Comparative Physiological Analysis of METHYL JASMONATE in the Delay of Postharvest Physiological Deterioration and Cell Oxidative Damage in Cassava. Biomolecules. 2019 Sep 5;9(9). pii: E451.

Thời gian chế biến củ sắn rất ngắn chủ yếu do hiện tượng sinh lý PPD (postharvest physiological deterioration) và hiện tượng bị tổn thương bởi sự ô xi hóa của tế bào (cell oxidative damage). Tuy nhiên, làm thế nào kiểm soát có hiệu quả: vẫn còn là câu hỏi chưa có đáp án. Trong nghiên cứu này, các lát cắt giống sắn “South China 5” được xử lý bằng hai nghiệm thức: phun nước và phun methyl jasmonate (MeJA) để nghiên cứu ảnh hưởng của MeJA đối với ROS (reactive oxygen species), các enzymes gây hiệu ứng antioxidant, phẩm chất, các mức độ hormone nội sinh, và các gen trong sinh tổng hợp melatonin. Nhóm tác giả đã tìm thấy MeJA nội sinh có thể làm trì hoãn sự hư hỏng ít nhất trong 36 giờ và làm giảm bớt sự tổn thương tế bào bị ô xi hóa thông qua hoạt động của men superoxide dismutase, catalase, và peroxidase. Hơn nữa, MeJA đã làm tăng hàm lượng melatonin và gibberellin trong suốt thời kỳ sinh lý PPD, nó có ảnh hưởng đáng kể đến sự điều tiết PPD. Do vậy, MeJA ngoại sinh có ảnh hưởng đáng kể trên sự duy trì độ bền của phẩm chất củ sắn, minh chứng bởi ascorbic acid tăng lên và  carotenoid tăng lên. Cả hai, nghiệm thức xử lý MeJA đều tỏ ra hữu hiệu và là con đường triển vọng cho phép kéo dài thời giansau thu hoạch, làm nhẹ bớt tổ thương tế bào do ô xi hóa, là điều tiết phẩm chất củ sắn khi tồn trữ. Xem https://www.mdpi.com/2218-273X/9/9/451/htm.

 

Nghiên cứu tạo chế phẩm vi sinh vật xử lý nước thải chế biến tinh bột sắn

 Nghiên cứu tạo chế phẩm vi sinh vật xử lý nước thải chế biến tinh bột sắn 

TÓM TẮT

Chế biến tinh bột sắn là ngành công nghiệp phát sinh lượng lớn nước thải. Lượng nước thải sinh ra trong quá trình chế biến tinh bột sắn trung bình 12-20m3/tấn sản phẩm/ngày (Huỳnh Ngọc Phương Mai, 2006). Trong nước thải chế biến tinh bột sắn thường có thành phần chất rắn lơ lửng cao do bột và xơ củ sắn sót lại, nhu cầu oxy sinh hóa (BOD) và nhu cầu oxy hóa học (COD) có nồng độ cao hàng chục ngàn mg/l gây khó khăn cho quá trình xử lý sinh học.

DOWNLOAD

Tác động của việc trồng sắn cho sản xuất nhiên liệu sinh học đến đa dạng sinh học trong cảnh quan: tổng quan tại Việt Nam

Tác động của việc trồng sắn cho sản xuất nhiên liệu sinh học đến đa dạng sinh học trong cảnh quan: tổng quan tại Việt Nam 

Nguyễn Đình Tráng, Phạm Quang Hà

Viện Môi trường Nông nghiệp

 

TÓM TẮT

Sản xuất ethanol sinh học tại Việt Nam chủ yếu dựa trên nguyên liệu sắn. Nghiên cứu này tiến hành rà soát tác động của việc mở rộng trồng sắn nguyên liệu cho sản xuất ethanol sinh học đến đa dạng sinh học trong cảnh quan. Theo dõi trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2015 chỉ ra rằng diện tích sắn của Việt Nam đã tăng lên khoảng 71.000 ha. Tuy nhiên, sự mở rộng diện tích trồng sắn dường như không bắt nguồn từ chuyển đổi diện tích khu bảo tồn, khu vực có giá trị đa dạng sinh học cao và có thể khẳng định rằng sự gia tăng diện tích sắn trong giai đoạn này hầu như không do sản xuất ethanol sinh học. Liên quan đến tác động đến đa dạng sinh học, một số thực tiễn tốt trong canh tác sắn với phương pháp bảo tồn trên đất dốc tại một số địa phương đã mang lại tác động tích cực đến hệ sinh thái đất và cảnh quan. Dẫu vậy, các tác động tiêu cực đến đa dạng sinh học trong cảnh quan từ việc mở rộng diện tích trồng sắn nguyên liệu chưa được xác định rõ rệt.

 

Từ khóa: ethanol sinh học, nguyên liệu sắn, đa dạng trong cảnh quan, Việt Nam

 

DOWNLOAD

 

2020. Chu Đức Hà. Nghiên cứu cấu trúc của Gen mã hóa Nuclear Factor-Yb ở sắn liên quan đến tính chống chịu điều kiện bất lợi

Nghiên cứu cấu trúc của Gen mã hóa Nuclear Factor-Yb ở sắn liên quan đến tính chống chịu điều kiện bất lợi  
Chu Đức Hà(1), La Việt Hồng(2), Lê Hoàng Thu Phương(1,3), Lê Thị Thảo(1,4,5), Hoàng Thị Thao(3), Phạm Thị Lý Thu(1)  
 

TÓM TẮT

Nuclear factor-YB là một trong ba tiểu phần cơ bản của nhân tố phiên mã Nuclear factor-Y, đóng vai trò quan trọng trong các quá trình sinh học diễn ra trong tế bào thực vật. Trong nghiên cứu này, một số yếu tố điều hòa cis- đáp ứng hóc môn và đáp ứng bất lợi đã được tìm thấy trên vùng promoter của 17 gen MeNF-YB. Trong đó, vùng promoter của gen MeNF-YB12 và -YB14 đều chứa các yếu tố đáp ứng bất lợi. Xây dựng cây phân loại đã chỉ ra rằng MeNF-YB12, -YB14 và -YB16 nằm trên cùng nhánh với các NF-YB ở đậu tương và Arabidopsis thaliana được nghiên cứu trước đây, gợi ý 3 thành viên này có thể đáp ứng với điều kiện hạn. Dữ liệu microarray đã chỉ ra các gen có biểu hiện ở 7 bộ phận chính trên cây sắn trong điều kiện thường. Gen MeNF-YB2 và -YB12 được xác định có biểu hiện đặc thù lần lượt ở thân, củ và củ, chồi bên. Mặt khác, MeNF-YB5 và -YB14 cũng có biểu hiện mạnh ở củ. Những dữ liệu này gợi ý rằng 2 gen MeNF-YB14 và -YB12 có thể đáp ứng với điều kiện hạn.

 

 

Một số đặc điểm hình thái và sinh học của rệp sáp giả đu đủ Paracoccus marginatus (Hemiptera: Pseudococcidae) gây hại trên cây sắn

 Một số đặc điểm hình thái và sinh học của rệp sáp giả đu đủ Paracoccus marginatus (Hemiptera: Pseudococcidae) gây hại trên cây sắn  

Phạm Huỳnh Đông Anh và Lê Khắc Hoàng

Đại học Nông lâm thành phố Hồ Chí Minh

TÓM TẮT

Cây sắn (khoai mì) (Manihot esculenta Crantz) là một loài trong khoảng 100 loài của chi Manihot và được phân bố rộng trên thế giới, tập trung chủ yếu nơi có nhiệt độ trung bình lớn hơn 180C, từ miền Bắc của Argentina cho đến miền Nam của nước Mỹ (Aditya Parmar, Barbara Sturm, 2017; FAO, 2013; Nassar & Ortiz, 2007). Trên thế giới, cây sắn được trồng ở 103 quốc gia, vùng trồng cây sắn chủ yếu ở Trung và Tây Phi (Nigeria và Ghana), Bắc Brazil, Thái Lan và Indonesia (Aditya Parmar, Barbara Sturm, 2017). e Việt Nam, sản xuất sắn đã tăng mạnh trong 20 năm qua và cả nước hiện có khoảng 560.000 ha trồng sắn. Điều này làm cho Việt Nam trở thành nước xuất khẩu lớn thứ hai trên thế giới sau Thái Lan về các sản phẩm sắn.

Những năm gần đây, các loài sâu hại sắn đang có sự gia tăng mức độ gây hại nhanh ở những vùng trồng sắn của Việt Nam. Trong đó có loài rệp sáp giả đu đủ - Paracoccus marginatus thường xuyên xuất hiện và gây hại, loài sâu hại này đã được chính thức ghi nhận là sâu hại sắn ở nước ta vào năm 2014 (Lê Thị Tuyết Nhung và ctv, 2014). Tuy nhiên những nghiên cứu và tài liệu về loài sâu hại này trên sắn tại nước ta còn này rất hạn chế. Do vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu các đặc điểm hình thái và sinh học của rệp sáp giả đu đủ gây hại trên sắn để có cơ sở khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo về phòng trừ loài sâu hại phổ biến này.

DOWNLOAD

Một số đặc điểm sinh vật học của rệp sáp bột hồng Phenacoccus manihoti Matile-Ferrero (Homoptera: Pseudococcidae) hại cây sắn tại Phú Yên

 Một số đặc điểm sinh vật học của rệp sáp bột hồng Phenacoccus manihoti Matile-Ferrero (Homoptera: Pseudococcidae) hại cây sắn tại Phú Yên

Nguyễn Thị Thủy, Phạm Duy Trọng, Phạm Văn Sơn, Đặng Thị Lan Anh Nguyễn Thị Mai Lương và Hà Thị Kim Thoa

Viện Bảo vệ thực vật

 TÓM TẮT

Lúa, ngô và sắn là ba cây trồng được ưu tiên nghiên cứu phát triển trong tầm nhìn chiến lược đến năm 2020 của Việt Nam. Cây sắn đã chuyển đổi vai trò từ cây lương thực sang cây công nghiệp - cây trồng hàng hóa với tốc độ phát triển cao; năng suất, diện tích và sản lượng sắn đã tăng nhanh từ năm 2000 đến 2017 lần lượt là; 8,35 tấn/ha lên 18,45 tấn/ha, 237,6 ngàn ha lên tới 534,6 ngàn ha và từ 1986,3 ngàn tấn lên 10340,8 ngàn tấn. Cùng với sự tăng nhanh về diện tích thì sinh vật hại cũng bùng phát, gây hại nghiêm trọng trong những năm gần đây như chổi rồng hại sắn năm 2004, rệp sáp bột hồng năm 2012, bệnh khảm lá sắn năm 2018.

Rệp sáp bột hồng (RSBH) có nguồn gốc từ vùng Trung Mỹ và Nam Mỹ (Gutierrez et al., 1988; Lȍhr et al., 1994; Muniappan et al., 2009; Parsa et al., 2012) đã xâm nhập và gây hại sắn ở Việt Nam lần đầu tiên vào tháng 7/2012 tại Tây Nình. Tháng 9/2014, ghi nhận sự xuất hiện và gây hại của RSBH trên địa bàn tỉnh Phú Yên tại xã An Hải huyện Tuy An với diện tích khoảng 40 ha trên giống KM 94 tám tháng tuổi. Đến năm 2016, RSBH lây lan và gây hại tại 9 huyện thị của Phú Yên (Chi cục TT và BVTV Phú Yên, 2017). RSBH gây hại đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất, chất lượng và nguồn nguyên liệu sắn tại Phú Yên.

 DOWNLOAD