CÂY SẮN VIỆT NAM

Thứ Năm, 2 tháng 4, 2026

Triển vọng giống sắn HL-RS15

Triển vọng giống sắn HL-RS15

Trần Đức Trung - NNMT

Sau nhiều năm lao đao vì bệnh khảm lá, người nông dân Tây Ninh đã có thêm niềm tin mới khi những giống sắn kháng bệnh bước đầu khẳng định hiệu quả trên đồng ruộng.

Ưu điểm vượt trội giống sắn HL-RS15

Những năm trước, bệnh khảm lá sắn từng là “cơn ác mộng” với người trồng ở Tây Ninh. Virus khảm lá gây bệnh làm cây suy yếu, năng suất giảm 20 - 90%, kéo theo thua lỗ triền miên. Có thời điểm, nguy cơ “xóa sổ vùng nguyên liệu” đã hiện hữu, khiến cả nông dân lẫn doanh nghiệp chế biến đứng ngồi không yên.

Tuy nhiên, thay vì buông xuôi, ngành nông nghiệp và nông dân Tây Ninh đã chọn cách chủ động tìm giống mới, thích nghi và thay đổi. Thông qua hợp tác với Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc và các đơn vị khoa học, nhiều giống sắn triển vọng đã được đưa vào khảo nghiệm và nhân rộng. Sau các giống HN1, HN3, HN7, đến nay giống sắn HL-RS15 đang được đánh giá cao tại tỉnh Tây Ninh.

Kết quả ban đầu cho thấy giống sắn HL-RS15 kháng bệnh khảm lá 100%, sinh trưởng tốt trên đất Tây Ninh, năng suất đạt 40 - 45 tấn/ha, hàm lượng tinh bột ổn định. Đây được xem là “cú hích” quan trọng, mở ra hướng đi bền vững cho cây trồng chủ lực của tỉnh.

“Giống sắn HL-RS15 có các ưu điểm nổi bật như: năng suất cao (30-52,7 tấn/ha), hàm lượng tinh bột cao (28-31%), khả năng kháng bệnh tốt (khảm lá, chổi rồng, rệp sáp, thối củ), thời gian sinh trưởng phù hợp (8-10 tháng) và khả năng giữ tinh bột lâu, giúp nông dân yên tâm canh tác và ổn định nguồn nguyên liệu cho chế biến”, Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc Phạm Thị Nhạn cho biết thêm.

Một trong những hộ nông dân đầu tiên được tiếp cận giống mới, ông Nguyễn Thành Vinh, nông dân xã Tân Hội chia sẻ: “Hơn 20 năm gắn bó với cây sắn, tôi đã trải qua nhiều thăng trầm. Vài năm trước, bệnh khảm lá khiến bà con chúng tôi rất lo lắng. Nhưng từ khi đưa giống sắn HL-RS15 vào sản xuất, tôi yên tâm hẳn. Cây khỏe, năng suất ổn định, lại được cán bộ khuyến nông đồng hành, đời sống gia đình cải thiện rõ rệt”.

Không chỉ đổi mới giống, ông cũng như nhiều hộ còn áp dụng tiến bộ kỹ thuật như tưới bằng năng lượng mặt trời, canh tác hữu cơ, liên kết trong Hội Nông dân để cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm. Nhờ đó, chi phí giảm, hiệu quả tăng, tinh thần bà con phấn khởi hơn trước.

Trưởng trạm Khuyến nông và Dịch vụ Nông nghiệp khu vực Tân Châu Dương Thanh Phương cho biết thêm, nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi và kỹ thuật canh tác ngày càng được cải thiện, tổng diện tích trồng sắn trên địa bàn huyện Tân Châu cũ đã vượt 18.500 ha, lớn nhất cả tỉnh. Vụ hè thu năm 2025, nông dân trên địa bàn xuống giống được 12 ha giống sắn HL-RS15. Dự kiến, đến tháng 3/2026, diện tích nhân giống có thể đạt hơn 120 ha, sẵn sàng phục vụ sản xuất đại trà tại khu vục Tân Châu và các khu vực lân cận.

“Việc đưa giống sắn HL-RS15 vào sản xuất không chỉ góp phần đa dạng hóa cơ cấu giống sắn mà còn mở ra cơ hội tăng hiệu quả kinh tế, giảm thiểu rủi ro sâu bệnh hại, bảo đảm năng suất và chất lượng, giúp nông dân yên tâm canh tác. Trạm Khuyến nông khu vực Tân Châu đang tích cực phối hợp các hộ nông dân để mở rộng diện tích trồng, theo dõi đặc tính giống và hoàn thiện quy trình kỹ thuật nhằm chuyển giao đại trà trong thời gian tới”, ông Dương Thanh Phương nhấn mạnh.

Tiếp tục lai tạo tìm kiếm giống mới

Trong nhiều năm qua, cây sắn đã trở thành cây trồng chủ lực của Tây Ninh, góp phần định hình vị thế “thủ phủ sắn” của cả nước. Với trên 60.000 ha, hằng năm cung ứng hàng triệu tấn củ cho các nhà máy chế biến tinh bột và xuất khẩu, sắn đem lại sinh kế cho hàng vạn hộ nông dân. Thế nhưng, đằng sau những con số ấn tượng ấy là những thách thức ngày càng hiện hữu: đất đai bị thoái hoá, giống sắn suy kiệt, dịch bệnh bùng phát và nguy cơ vùng nguyên liệu không còn bền vững.

Theo các chuyên gia nông nghiệp, đặc điểm sinh học và phương thức canh tác sắn chính là nguyên nhân quan trọng dẫn đến thoái hoá đất. Bộ rễ sắn ăn sâu, hút nhiều dưỡng chất, đặc biệt là kali và đạm, khiến đất nhanh chóng cạn kiệt. Việc canh tác liên tục, ít luân canh và thiếu bổ sung phân hữu cơ làm cho đất bạc màu, hữu cơ giảm mạnh.

Nghiên cứu của Viện Thổ nhưỡng Nông hoá chỉ ra: sau 3-4 vụ trồng liên tục, hàm lượng chất hữu cơ trong đất trồng sắn có thể giảm tới 50%. Trong khi đó, vào mùa mưa, tán lá sắn thưa, không che phủ, đất dễ bị xói mòn, rửa trôi. Tàn dư cây trồng không được tận dụng để tái tạo dinh dưỡng mà thường bị bỏ hoặc đốt bỏ, càng làm cho đất nghèo kiệt.

Thoái hóa đất không chỉ làm năng suất giảm sút, mà còn làm thoái hóa giống, tạo điều kiện cho dịch bệnh phát triển mạnh. Đơn cử, bệnh khảm lá sắn do virus gây ra, chưa có thuốc đặc trị, khiến cây suy giảm sức đề kháng. Từ đó, hàng loạt bệnh cơ hội khác như thối thân xì mủ, chổi rồng, rệp sáp, thối cổ rễ… dễ dàng tấn công, làm củ kém chất lượng, năng suất sụt giảm từ 20% đến 90%.

Trong bối cảnh đó, giải pháp được coi là “cứu cánh” cho cây sắn Tây Ninh là lai tạo và chọn giống mới có khả năng kháng bệnh, thích nghi tốt với điều kiện đất đai.

Nói về công tác khảo nghiệm, nghiên cứu, tìm ra giống sắn mới, Thạc sĩ Phạm Thị Nhạn, Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc chia sẻ, để có được một giống mới ưu việt, công tác nghiên cứu, khảo nghiệm phải qua rất nhiều bước và mất rất nhiều thời gian, trung bình phải mất ít nhất 3 đến 5 năm mới tuyển chọn ra giống được công nhận.

 Thời gian qua, Viện đã tích cực phối hợp cùng các đơn vị trong nước cũng như tổ chức quốc tế để tuyển chọn được 6 giống sắn kháng bệnh khảm lá và đã được công nhận ở vùng Đông Nam Bộ. Cùng với đó, giống HL-RS15 tiếp tục phát huy ưu thế và được nhân rộng, nó sẽ trở thành “lá chắn” giúp Tây Ninh bảo vệ 62.000 ha sắn, duy trì vị thế thủ phủ sắn cả nước. Đó cũng là nền tảng để ngành chế biến tinh bột, xuất khẩu sắn ổn định nguồn nguyên liệu, hướng đến phát triển bền vững.

"Thoái hóa giống sắn" là hiện tượng giống sắn bị giảm năng suất, chất lượng và khả năng chống chịu bệnh do sự tích lũy của các khuyết tật di truyền qua quá trình nhân giống vô tính từ hom giống không sạch bệnh. Để khắc phục, cần áp dụng các biện pháp như chọn và nhân giống từ vật liệu sạch bệnh, thu hoạch và bảo quản củ giống đúng kỹ thuật, luân canh cây trồng để giảm thiểu mầm bệnh trong đất.

Thứ Tư, 1 tháng 4, 2026

Ngành sắn trước yêu cầu tái cấu trúc chuỗi cung và truy xuất nguồn gốc

 Ngành sắn trước yêu cầu tái cấu trúc chuỗi cung và truy xuất nguồn gốc

Chu Khôi - VnEconomy

Năm 2025, xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn của Việt Nam đạt trên 3,9 triệu tấn, kim ngạch hơn 1,26 tỷ USD. Tuy nhiên, phía sau những con số ấn tượng đó là hàng loạt thách thức mang tính cấu trúc...

Ngày 28/1/2026, tại Hà Nội, Hội Khoa học Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (VAERD), Hiệp hội Sắn Việt Nam và Tổ chức Forest Trends phối hợp tổ chức hội thảo: "Chuỗi cung ngành sắn Việt Nam: Thực trạng và giải pháp". Tại đây, các chuyên gia đã chỉ ra những thách thức mà ngành sắn đang đối mặt như: năng suất thấp, sản xuất manh mún, phụ thuộc gần như tuyệt đối vào một thị trường xuất khẩu, và đặc biệt là điểm nghẽn lớn về truy xuất nguồn gốc trong bối cảnh các thị trường quốc tế ngày càng siết chặt tiêu chuẩn môi trường và pháp lý.

QUY MÔ LỚN NHƯNG GIÁ TRỊ GIA TĂNG THẤP

Thông tin tại sự kiện, đại diện Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), cho biết đến năm 2025, diện tích trồng sắn của Việt Nam duy trì khoảng 495.000 – 500.000 ha, sản lượng củ tươi đạt 10,2 – 10,5 triệu tấn/năm, năng suất bình quân 20,5 – 21 tấn/ha. Dù năng suất đã được cải thiện nhờ giống mới và tiến bộ kỹ thuật, nhưng vẫn thấp hơn đáng kể so với Thái Lan và Indonesia.

Hệ thống chế biến sắn tại Việt Nam phát triển mạnh về số lượng với khoảng 2.200 - 2.300 cơ sở, tổng công suất thiết kế đạt 2,4 - 2,5 triệu tấn tinh bột/năm. Tuy nhiên, cơ cấu chế biến còn bất hợp lý khi các cơ sở nhỏ, hộ gia đình chiếm tỷ lệ lớn, công suất thực tế chỉ đạt 65- 70%. Xuất khẩu vẫn chủ yếu là sắn lát khô và tinh bột sắn sơ chế, khiến giá trị gia tăng thấp và dễ tổn thương trước biến động thị trường.

"Năng suất thấp, canh tác manh mún và chuỗi cung lỏng lẻo là ba điểm nghẽn lớn nhất của ngành sắn.

Nếu không xử lý đồng thời, ngành sắn sẽ khó đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc và ngày càng rủi ro khi hội nhập”.

Theo báo cáo của Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), trong năm 2025, Trung Quốc chiếm tới 94,1% tổng lượng và 92,6% tổng kim ngạch xuất khẩu sắn của Việt Nam, tương đương 3,7 triệu tấn, trị giá 1,17 tỷ USD. Các thị trường khác như Đài Loan, Malaysia, Philippines chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ.

Mức độ tập trung thị trường quá cao khiến ngành sắn Việt Nam dễ bị tổn thương trước những thay đổi chính sách, tiêu chuẩn kỹ thuật hoặc biến động nhu cầu từ phía Trung Quốc. Đáng chú ý, chính thị trường này cũng đang ngày càng siết chặt yêu cầu về chất lượng, an toàn thực phẩm và đặc biệt là truy xuất nguồn gốc.

TS Hà Công Tuấn, Chủ tịch VAERD, cho biết khó khăn lớn nhất của ngành sắn trong việc đảm bảo truy xuất nguồn gốc nằm ở khâu nguyên liệu. Trong nước, sắn chủ yếu được trồng trên các diện tích nhỏ lẻ, bình quân chỉ 0,5 – 0,6 ha/hộ, tiêu thụ qua thương lái, thiếu thông tin về lịch sử sử dụng đất và giao dịch. Với nguyên liệu nhập khẩu từ Lào và Campuchia, chiếm tới 42% tổng cung, tình trạng thiếu thông tin vùng trồng và bằng chứng giao dịch cũng diễn ra tương tự.

DOANH NGHIỆP PHẢI ĐỨNG VÀO TRUNG TÂM CHUỖI NGÀNH HÀNG SẮN

Theo Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Việt Nam hiện sử dụng chủ yếu ba nhóm giống sắn, song công tác nhân giống, kiểm soát chất lượng và chuyển giao kỹ thuật còn phân tán. Phần lớn diện tích sắn được trồng trên đất dốc, đất nghèo dinh dưỡng, canh tác liên tục nhiều năm nhưng ít được cải tạo, dẫn đến suy thoái đất và giảm năng suất dài hạn.

TS Hà Công Tuấn cho rằng nếu thâm canh sắn thì bắt buộc phải song hành với các biện pháp cải tạo đất và canh tác bền vững. Ngược lại, nếu luân canh tự phát theo tín hiệu giá thị trường, nguy cơ đứt gãy truy xuất nguồn gốc là rất lớn, khó hình thành vùng nguyên liệu ổn định phục vụ chế biến quy mô lớn.

"Trong bối cảnh phần lớn người trồng sắn là đồng bào dân tộc thiểu số, hạn chế về vốn và tiếp cận tài chính, vai trò tổ chức của doanh nghiệp càng trở nên then chốt.

Doanh nghiệp phải đứng vào trung tâm chuỗi giá trị của ngành hàng sắn”.

Theo ông Nghiêm Minh Tiến - Chủ tịch Hiệp hội Sắn Việt Nam, một thực tế đáng chú ý là hiện chưa tới 5% người trồng sắn ký hợp đồng trực tiếp với nhà máy chế biến; hơn 95% sản lượng vẫn giao dịch tự do qua thương lái. Dù cả nước có khoảng 350 - 380 hợp tác xã có thành viên trồng sắn, nhưng số hợp tác xã chuyên ngành sắn chỉ khoảng 40 - 50, và liên kết hợp đồng ổn định mới bao phủ 20 - 25% sản lượng.

“Vấn đề không phải là “xóa” thương lái bằng mệnh lệnh hành chính, mà là doanh nghiệp chế biến có đủ năng lực để trực tiếp tổ chức vùng nguyên liệu, gắn kết với nông dân và hợp tác xã hay không", ông Tiến nêu quan điểm.

"Ngành sắn hiện có quy mô tác động xã hội rất lớn, với số hộ tham gia còn cao hơn nhiều ngành hàng chủ lực khác. Ước tính, có khoảng hơn 1,2 triệu hộ gắn với cây sắn, cao hơn cà phê (khoảng 700.000 hộ), cao su (khoảng 250.000 hộ) và tương đương, thậm chí lớn hơn quy mô hộ trong ngành gỗ. Tuy nhiên, trái với quy mô đó, thông tin và dữ liệu về ngành sắn lại hạn chế, khiến việc quản lý và hoạch định chính sách gặp nhiều khó khăn".

Trong bối cảnh quốc tế, các quy định mới như Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR), cùng các yêu cầu tương tự từ Hoa Kỳ, Anh, Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc đang tạo ra áp lực lớn đối với các ngành hàng nông lâm sản. Dù hiện EUDR chưa áp dụng trực tiếp với sắn, xu hướng siết chặt là rõ ràng và không thể đảo ngược.

Theo Forest Trends, để đáp ứng yêu cầu truy xuất theo định hướng của Chính phủ, ngành sắn cần tái cấu trúc toàn bộ chuỗi cung theo hướng chính thức, minh bạch và có kiểm soát. Hợp tác xã cần được xác định là hạt nhân tổ chức vùng nguyên liệu, gắn chặt với doanh nghiệp chế biến chủ lực; ưu tiên hỗ trợ các hợp tác xã hoạt động thực chất, có khả năng ký kết hợp đồng dài hạn.

Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh chế biến sâu nhằm nâng cao giá trị gia tăng, từng bước giảm tỷ trọng xuất khẩu sắn lát và tinh bột sơ chế, phát triển các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao phục vụ thực phẩm, dược phẩm, công nghiệp và năng lượng sinh học. Cùng với đó là đa dạng hóa thị trường, khai thác hiệu quả các Hiệp định thương mại tự do, giảm dần sự phụ thuộc vào một thị trường duy nhất.

Thứ Năm, 16 tháng 10, 2025

Nghiên cứu quy trình nhân in vitro cây sắn ruột vàng phú thọ

 Nghiên cứu quy trình nhân in vitro cây sắn ruột vàng phú thọ

Lê Thị Thanh, Phạm Thị Hiệp, Tống Thị Huyền, Lê Thị Thu Trang, Nguyễn Phương Nga, Tăng Thị Diệp, VũThị Phương, Đỗ Thị Thanh Thanh, Nguyễn Thị Nga, Hoàng Minh Chính, Phạm Thị Thu Hà, Nguyễn Thị Thu Phương, Phạm Thiên Thành

DOWNLOAD

Tóm tắt

Trong nghiên cứu này, sự hình thành phôi soma và sự tái sinh của cây sắn ruột vàng Phú Thọ từ đỉnh chồi và mảnh lá non lấy từ cây trồng in vitro đã được kiểm tra. Các thử nghiệm cho thấy, khử trùng mẫu bằng NaOCl 3% trong 15 phút, lặp lại hai lần cho tỷ lệ mẫu sạch cao (77,8%) và tỷ lệ mẫu chết thấp (24,3%). Môi trường phát sinh mô sẹo tốt nhất là MS nền có bổ sung 10 mg/L 2,4-D cho tỷ lệ hình thành mô sẹo cao đạt 79,4% với nuôi cấy mảnh lá và 81,8% với nuôi cấy chồi đỉnh. Môi trường tạo chồi tốt nhất là MS nền có bổ sung 0,2 mg/L BAP cho tỷ lệ hình thành cây con từ tế bào soma mảnh lá là 49% và tế bào soma chồi đỉnh là 51,7%. Sau 3 tuần nuôi cấy, chồi đạt 4 - 5 cm. Để nhân nhanh, mỗi chồi được cắt thành từng đốt và cấy trên môi trường tái sinh cây. Hệ số nhân chồi từ một chồi ban đầu sau 12 tháng có thể nhân được 76.527.504 cây in vitro. Môi trường tái sinh cây hoàn chỉnh là MS nền có bổ sung 0,25 mg/L NAA và 0,4 g/L than hoạt tính cho tỷ lệ ra rễ đạt 100%. Cây sắn in vitro thích nghi tốt với giá thể 60% đất phù sa + 40% trấu hun. Cây con có tỷ lệ sống 100%, số lá trung bình đạt 7,3 lá và chiều cao cây đạt 10,2 cm sau hai tuần ươm cây. Quy trình nhân in vitro có hệ số nhân cao, cây con sinh trưởng tốt, có khả năng ứng dụng phục vụ sản xuất cây sắn ruột vàng Phú Thọ quy mô công nghiệp

Bằng chứng tiến hóa của xói mòn quỹ gen quy định tính dục của cây sắn (Manihot esculenta)

 Bằng chứng tiến hóa của xói mòn quỹ gen quy định tính dục của cây sắn (Manihot esculenta)

Nguồn: Evan M LongMichelle C StitzerBrandon MonierAimee J SchulzMaria Cinta RomayKelly R RobbinsEdward S Buckler . 2025. Evolutionary signatures of the erosion of sexual reproduction genes in domesticated cassava (Manihot esculenta). G3 (Bethesda); 2025 Feb 5; 15(2):jkae282.doi: 10.1093/g3journal/jkae282

Hàng thế kỷ người ta phát triển nhân giống sắn (Manihot esculenta) vô tính đã và đang làm giảm khả năng tái tổ hợp giới tính, dẫn đến tích lũy nhiều đột biến có hại. Đây là kết quả suy thoái giống cận giao ảnh hưởng đến năng suất và làm giảm đáng kể hiệu suất sinh sản, tạo ra rào cản đối với chương trình cải tiến giống hiện đại. Sắn thuộc họ Euphorbiaceae, bao gồm những loài cây trồng như cao su (Hevea brasiliensis) và cây trạng nguyên (Euphorbia pulcherrima).

Mở rộng dựa trên bản thảo hệ gen, người ta chú thích di truyền (annotated) 7 assemblies của hệ gen được đọc với trình tự dài so sánh với trình tự của 52 genomes, để phân tích kết quả chọn lọc xuyên qua genome này và di truyền huyết thống cây sắn. Thông qua phương pháp “comparative genomic”, người ta xác định được 48 gen dưới sự chọn lọc thoải mái giống sắn. Đáng chú ý, người ta phát hiện đưọc một  siêu đại diện của những gen  biểu hiện khi trổ bông, đặc biệt tập trung tại 6 gen có liên quan đến hạt phấn. Kết quả cho thấy sự thuần hóa giống sắn và một sự chuyển sang nhân giống vô tính đã và đang làm giảm áp lực chọn lọc về chức năng có tính chất tính dục của cây sắn dẫn đến  tích tụ nhiều dạng đột biến của gen liên quan đến hạt phấn. Điều này làm cho chọn lọc không còn áp lực và những đột biến có hại trong hệ gen chịu trách nhiệm trong suy thoái bởi cận giao là những mục tiêu chủ đích trong cải tiến giống sắn, ở đó, thế hệ của những giống sắn mới dựa vào sự tái tổ hợp các alen có lợi thông qua lai hữu tính.

Xem  https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/39673428/

SEGS-1 episomes được tạo ra khi cây sắn bị khảm làm cho bệnh trầm trọng hơn

 SEGS-1 episomes được tạo ra khi cây sắn bị khảm làm cho bệnh trầm trọng hơn

Nguồn: Evangelista ChiungaCatherine D AimoneCyprian RajabuMary M DallasJoseph NdunguruJosé T Ascencio-IbáñezElijah M AtekaLinda Hanley-Bowdoin. 2025 SEGS-1 episomes generated during cassava mosaic disease enhance disease severity. Front Plant Sci.; 2025 Jan 10: 15:1469045. doi: 10.3389/fpls.2024.1469045.

Sắn là cây trồng cho củ quan trọng được trồng bởi nông hộ nhỏ ở vùng cận sa mạc Sahara, châu Phi.

Bệnh khảm lá sắn CMD (Cassava mosaic disease), do một nhóm siêu vi có tên là CMB (cassava mosaic begomoviruses), đây là một trong những bệnh hại sắn gây thiệt hại lớn nhất. Nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng SEGS-1 (sequences làm tăng triệu chứng geminivirus), xảy ra cả trên hệ gen cây sắn và trên episomes của nó trong suốt giai đoạn CMD diễn ra, có thể làm tăng bệnh CMD nặng hơn và vượt qua sự kháng cự của cây chủ. Theo nghiên cứu, người ta xem xét ảnh hưởng của áp dụng SEGS-1 ngoại sinh về tỷ lệ nhiễm bệnh CMD, triệu chứng trầm trọng, và số sao chép DNA của virus trong 5 giống sắn thí nghiệm cho kết quả nhiễm bệnh từ nhẹ đến nặng . Nghiên cứu này cho thấy ảnh hưởng của SEGS-1 tùy vào từng giống khác nhau. Giống nhiễm phát triển CMD nặng hơn có hoặc không có SEGS-1 ngoại sinh, trong khi đó, SEGS-1 điều khiển bởi một locus, nhưng không kháng được  CMD1, tính kháng này đa gen quy định. Phân tích cây nhiễm bệnh khi vắng mặt SEGS-1 ngoại sinh cho thấy rằng một vài không phải tất cả giống sắn hình thành nên hệ SEGS-1 episomes khi bị bệnh CMD. Sự có mặt của SEGS-1 episomes nội sinh trong TME14, một giống s8a1n kháng CMD2, tương quan với mức trầm trọng của bệnh CMD. Trái lại, TME3, một giống sắn liên quan gần với CMD2, không hình thành ra SEGS-1 episomes nội sinh và kháng mạnh hơn TME14. Khả năng khác biệt của TME3 và TME14 để hình thành nên SEGS-1 episomes không giống nhau vì khác chuỗi trình tự DNA bên trong và xung quanh loci SEGS-1. Vùng có chức năng của SEGS-1 được định vị trên bản đồ di truyền sử dụng  TME3 tới trình tự hai bên cạnh của “episome junction”, nhưng tự bản thân junction này không cần hoạt động. Tất cả giống sắn có trinh tự SEGS-1 trong genomes của chúng đều có khả năng gây tác động tiêu cực đến sự phát triển của tính kháng CMD trong chương trình cải tiến giống sắn.

Xem https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/39911651/

Tích hợp kết quả phân tích transcriptomics và metabolomics cung cấp những kiến thức mới về phản ứng với sự thiếu nitrogen của cây sắn

Tích hợp kết quả phân tích transcriptomicsmetabolomics cung cấp những kiến thức mới về phản ứng với sự thiếu nitrogen của cây sắn

Nguồn: Yu WangJing ChuHaoyang ZhangHao JuQing XieXingyu Jiang. 2025. Integrated transcriptomics and metabolomics analyses provide new insights into cassava in response to nitrogen deficiency. Front Plant Sci.; 2025 Jan 14: 15:1488281. doi: 10.3389/fpls.2024.1488281.

Sự thiếu nitrogen là trở ngại rất lớn đến năng suất cây trồng. Sắn là loài cây trồng cung cấp lương thực lớn thứ sáu trên thế giới, và là nguồn thức ăn gia súc quan trọng cũng như nguồn năng lượng trong công nghiệp. Sắn có thể phát triển mạnh ở đất mấp mé lượng N, tuy nhiên năng suất vẫn bị ảnh hưởng đáng kể bởi sự hạn chế của nitrogen khả dụng. Nghiên cứu cơ chế phản ứng của cây sắn đối với sự thiếu hụt nghiêm trọng nitrogen, do đó, rất cần để thúc đẩy chương trình cải tiến giống phân tử và xác định được giống sắn có khả năng hấp thu hiệu quả. Nghiên cứu đã tiến hành phân tích toàn diện của những phản ứng sinh lý cây sắn non, biểu hiện gen đích, và phản ứng của cơ chất biến dưỡng (metabolite) trong điều kiện thiếu nitrogen. Kết quả cho thấy sự thiếu hụt N làm suy giảm vận chuyển nitrate và ammonium đến các cơ quan trên mặt đất, dẫn đến một gia tăng đáng kể carbohydrate, ROS (reactive oxygen species), và các mức độ “ammonium ion” trên lá sắn. Phân tích transcriptomic và metabolomic chỉ ra rằng có những thay đổi đáng chú ý về gen và cơ chất biến dưỡng gắn với  biến dưỡng carbon và nitrogen, sinh tổng hợp flavonoid, chu trình biến dưỡng purine. Hơn nữa, nhiều yếu tố phiên mã (TFs) gắn kết với sinh tổng hợp flavonoid của sắn khi cây bị thiếu hụt nitrogen. Nghiên cứu này thu được những kiến thức mới và cung cấp nguồn vật liệu di truyền đáng giá làm sáng tỏ cơ chế thích nghi của cây sắn với tình trạng thiếu nitrogen.

Xem https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/39877744/

So sánh ở quy mô toàn bộ hệ gen cho thấy các biến thể kiến trúc của giống sắn bản địa

 So sánh ở quy mô toàn bộ hệ gen cho thấy các biến thể kiến trúc của giống sắn bản địa

Nguồn: Michael LandiAnna Vittoria CarluccioTrushar ShahAdnan NiaziLivia StavoloneLaurent FalquetAndreas GiselErik Bongcam-Rudloff. 2025. Genome-wide comparison reveals large structural variants in cassava landraces. BMC Genomics; 2025 Apr 10; 26(1):362. doi: 10.1186/s12864-025-11523-y. 

Những biến thể di truyền có tính chất kiến trúc (SVs: structural variants) rất cần thiết cho kết quả đa dạng hệ gen thực vật và các biến thiên kiểu hình. Các tác giả tiến hành nghiên cứu trên đoạn phân tử lớn có kích thức: 9.7 Mbp đoạn lập lại rất cao trên nhiễm sắc thể 12 của MEB117, một vùng đích  chưa được định tính trước đây của hệ gen cây sắn (Manihot esculenta Crantz). Mục tiêu nghiên cứu nhằm khai thác sự có mặt và sự biến dị di truyền trong tập đòa giống sắn bản địa, cung cấp những kiến thức mới về genome học cây sắn và khả năng ứng dụng thực tiễn.

Người ta minh chứng được sự có mặt của đoạn phân tử 9.7 Mbp trong hệ gen sắn TMEB117, khác biệt với những kết quả nghiên cứu hệ gen trước đó. Thông qua dữ liệu của “mapping short-read sequencing” lấy từ 16 giống sắn bản địa so với nhiễm sắc thể 12 của giống sắn TMEB117, người ta thấy rằng biến dị di truyền có trong kết quả “read mapping”, cho thấy rằng: khi tất cả giống sắn có mang một chèn đoạn trong vùng, thì có một vài biểu hiện mất các đoạn phân tử ấy hoặc cho kết quả trình tự khác biệt. Phân tích sâu cho thấy có hai gen độc nhất gắn với chức năng hoạt tính của men “deacetylase”, đó là HDA14  SRT2, trong vùng chèn đoạn này. Hơn nữa, nguyên tố chuyển vị MUDR-Mutator (transposable element) biểu hiện sự có mặt rết mạnh trong vùng này.

Nghiên cứu này xác định một biến thể lớn về cấu trúc trong hệ gen giống sắn TMEB117, phác họa tính biến thiên di truyền của nó trong những giống sắn khác nhau. Sự phong phú của gen HDA14  SRT2 và nguyên tố chuyển vị MUDR-Mutator trong chèn đoạn ấy gợi ra rằng nó có chức năng di truyền có ý nghĩa, cho dù nghiên cứu sâu còn phải tiếp tục để khai thác nó. Kết quả cung cấp kiến thức quan trọng về vai trò của biến dị di truyền về cấu trúc liên nquan đến đa dạng có tính chất genome học của cây sắn.

Xem https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/40211122/