CÂY SẮN VIỆT NAM

Thứ Bảy, 4 tháng 4, 2026

Vai trò của những cơ chất biến dưỡng và chu trình biến dưỡng bị thay đổi ảnh hưởng đến cây có củ khi bị khô hạn

 Vai trò của những cơ chất biến dưỡng và chu trình biến dưỡng bị thay đổi ảnh hưởng đến cây có củ khi bị khô hạn

Nguồn: Maltase MutandaFikile N MakhubuSandiswa Figlan. 2026. Role of Altered Metabolites and Metabolic Pathways in Major Tuber Crops Under Drought StressPlant Environ Interact.; 2026 Feb 13;7(1): e70126. doi: 10.1002/pei3.70126.

 Khô hạn đặt ra thách thức đáng kể cho tăng trưởng và năng suất cây có củ, đặc biệt là sắn (Manihot esculenta Crantz), khoai tây (Solanum tuberosum L.) và khoai lang (Ipomoea batatas (L.) Lam.). Những loài cây trồng này được trồng rộng khắp trên thế giới cung cấp củ và có vai trò cực trọng cho an ninh lương thực và dinh dưỡng, đặc biệt ở những vùng thiếu nước thuộc khu vực sub-Sahara, châu Phi, châu Á, châu Mỹ La tinh. Nhiều nghiên cứu đã nhấn mạnh đến cơ chất biến dưỡng ví dụ sucrose, proline và arginine góp phần vào tính trạng điều tiết áp suất thẩm thấu, bảo vệ tế bào và duy trì cán cân năng lượng khi bị khô hạn. Tuy nhiên, một tổng hợp toàn diện về phản ứng của cơ chất biến dưỡng khi khô hạn và những chu trình gắn liền với chúng bởi loai cây trồng có củ chủ yếu như vậy vẫn còn hạn chế. Do đó, nghiên cứu này nhằm xác định và đánh giá phản ứng của cơ chất biến dưỡng cũng như các chu trình bị thay đổi ra làm sao khi bị stress khô hạn đối với sắn, khoai tấy và khoai lang. Phân tích nhiều nghiên cứu từ các bài báo nghiên cứu được trình duyệt khoa học trên Web of Science and Scopus databases đã xác định được 223 cơ chất biến dưỡng có thay đổi đáng kể khi bị khô hạn so với nghiệm thức đối chứng (không hạn) thông qua 30 bài báo khoa học được in từ 2010 đến 2024. Nền tảng của MetaboAnalyst này được sử dụng để lập bản đồ các cơ chất biến dưỡng đối với lộ trình của chúng và định lượng mức  độ phong phú của chu trình diễn ra. Số lượng có càng cao của những cơ chất biến dưỡng thích nghi với khô hạn đã được báo cáo trong cây khoai tây, theo sau đó là khoai lang, phản ánh khả năng lớn hơn của nghiên cứu metabolomics cho loài cây trồng này, trong khi, thông tin cơ chất biến dưỡng rất hạn chế đối với cây sắn là do ít hơn bài báo công bố về phản ứng với khô hạn. Trehalose và proline là cơ chất biến dưỡng có giá trị kinh tế và ảnh hưởng lớn trong cả 3 loài cây có củ nói trên. Chu trình chất biến dưỡng phong phú bao gồm biến dưỡng glyoxylate và dicarboxylate, chu trình citrate, biến dưỡng alanine, aspartate và glutamate, biến dưỡng galactose, tinh bột, sucrose. Những phát hiện trên đây yêu cầu cần phát triển sâu hơn những nghiên cứu metabolomics, đặc biệt trong cây sắn đáp ứng với biến đổi khí hậu ở khu vực sub-Sahara Phi Châu, nhằm làm sáng tỏ các cơ chế điều chỉnh gắn với cơ chất biến dưỡng, biểu hiện gen đích và kiểu hình thích nghi với khô hạn. Do vậy, tích hợp lĩnh vực metabolomics với transcriptomics và proteomics cũng có thể cung cấp được một cách nhìn tổng quan toàn diện hơn về phản ứng của cây có củ với khô hạn, thúc đẩy mọi cố gắng của cải tiến giống nhằm mục tiêu an ninh lương thực.

Xem https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/41694540/

Hình: Giản đồ Venn cho thấy những cơ chất biến dưỡng bị ảnh hưởng đáng kể trong 3 loài cây trồng có củ (khoai lang, khoai mì và khoai tây). Khoai lang biểu hiện 26 cơ chất biến dưỡng đặc thù; khoai mì: không có; và khoai tây: 172

Phân tích ở quy mô “pan-genome” và phổ biểu hiện họ gen HIPP của cây sắn

 Phân tích ở quy mô “pan-genome” và phổ biểu hiện họ gen HIPP của cây sắn

Nguồn: Zhanming XiaJiazheng ZhaoChangyi WangShuwen WuYuwei ZangDayong WangShousong ZhuYi Min. 2026. Pan-Genome Analysis and Expression Profiling of HIPP Gene Family in CassavaGenes (Basel); 2026 Jan 27; 17(2):136. doi: 10.3390/genes17020136.

Cây sắn (Manihot esculenta Crantz) được xếp vào loài cây trồng lớn thứ sáu trên thế giới, nó đóng vai trò cây lương thực quan trọng và cây cho năng lượng. Protein HIPPs (heavy-metal-associated isoprenylated plant proteins) là những metallochaperones bao gồm tính chất bảo hòa kim loại (metal homeostasis) và sự thích nghi với stress của thực vật có mạchTuy nhiênnghiên cứu xác định và nghiên cứu chức năng của HIPPs trong cây sắn vẫn chưa được khai thác. Nghiên cứu được thực hiện ở quy mô phân tích pan-genome-wide nhằm xác định và định tính MeHIPPs trong 31 mẫu giống sắnNhững phân tích tiếp theo sau đó đã xác định thông số vật lý, hóa học, định vị trong tế bàocây gia hệ, Ka/Ks, định vị trên nhiễm sắc thể, synteny (gen đồng dạng)kiến trúc genvà các nguyên tố cis-acting.

Bên cạnh, người ta làm ra phổ biểu hiện MeHIPPs ở các mô khác nhau và ở các subsets của tế bào; tất cả được xử lý dưới điều kiện stress khác nhau; rồi đem phân tích thông qua cơ sở dữ liệu “transcriptome”, qRT-PCR.  Có tất cả 59 MeHIPP pan-genes được phân lập, bao gồm 5 gen cơ bản (core genes), 22 softcore genes, 17 dispensable genes, và 15 private genes, chúng được phân bố không cân xứng trên những nhiễm sắc thể. Trên kết quả phân tích di truyền huyết thống, những gen này được phân thành 5 subgroups chủ lực. Phân tích sự tiến hóa cho thấy sự kiện “segmental duplication” (lặp đoạn) chiếm ưu thế trong khi phát triển họ gen này; hầu hết các thành viên của họ gen có thể chịu sự sàng lọc thuần khiết. Phân tích “cis-element” nhấn mạnh tầm quan trọng của MeHIPPs khi cây thích nghi với stress có tính chất môi trường. Các phổ biểu hiện của những gen MeHIPP khi phản ứng với xâm nhiễm của vi khuẩn Xanthomonas phaseoli pv. manihotis (Xpm) và khi cây bị khô hạn. Những gen MeHIPP khác nhau biểu hiện mức độ phân tử transcript thay đổi ở từng mô khác nhau và các subsets của tế bào. Phân tích  qRT-PCR cho thấy những gen MeHIPP được sàng lọc có thành phần biểu hiện khác nhau khi cây bị nhiễm độc Cd. Nghiên cứu này cung cấp được luận cứ khoa học quan trọng về đặc điểm chức năng của các gen MeHIPP và tương quan đến kết quả tiến hóa, đặt nền tảng lý thuyết cho nghiên cứu chức năng sau này về tính trạng kháng với stress.

Xem https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/41751520/

Thứ Sáu, 3 tháng 4, 2026

Đột phá công nghệ sinh học: Tạo ra giống sắn kháng bọ phấn trắng bằng công nghệ RNAi

 Đột phá công nghệ sinh học: Tạo ra giống sắn kháng bọ phấn trắng bằng công nghệ RNAi

Nguyễn Ngọc Hùng theo bioRxiv

Bọ phấn trắng (Bemisia tabaci) là nỗi ám ảnh của người trồng sắn trên toàn thế giới. Chúng không chỉ gây hại trực tiếp bằng cách hút nhựa cây mà còn là trung gian truyền hai căn bệnh virus nguy hiểm nhất: bệnh khảm lá sắn (CMD) và bệnh sọc nâu sắn (CSBD). Những dịch bệnh này gây thiệt hại ước tính hơn 1,25 tỷ USD mỗi năm, đe dọa an ninh lương thực của hàng triệu nông hộ nhỏ lẻ.

Trước đây, các nỗ lực nghiên cứu chủ yếu tập trung vào việc tạo ra giống sắn kháng virus. Tuy nhiên, một nghiên cứu mới đây đã mở ra hướng đi đầy triển vọng khi tạo ra giống sắn có khả năng tự tiêu diệt bọ phấn trắng bằng công nghệ RNA can thiệp (RNAi).

Nhóm các nhà khoa học quốc tế từ Trung tâm Khoa học Thực vật Donald Danforth (Mỹ), Viện Tài nguyên Thiên nhiên (Anh) và Đại học Hebrew Jerusalem (Israel) đã xác định các gen đóng vai trò sống còn trong cơ thể bọ phấn trắng. Thay vì chỉ nhắm vào một mục tiêu, họ đã phát triển 4 chiến lược tấn công vào các quá trình sinh học cốt lõi của côn trùng:

Gây rối loạn cân bằng nước: Tấn công các gen giúp bọ phấn kiểm soát áp suất thẩm thấu khi hút nhựa cây nhiều đường.

Cắt đứt nguồn năng lượng: Nhắm vào quá trình chuyển hóa đường và vận chuyển năng lượng.

Tiêu diệt vi khuẩn cộng sinh: Bọ phấn trắng cần vi khuẩn trong ruột để tổng hợp các axit amin thiết yếu. Công nghệ này sẽ ngăn chặn sự phát triển của các vi khuẩn này.

Vô hiệu hóa khả năng giải độc: Ngăn chặn bọ phấn trắng giải độc các chất phòng vệ tự nhiên của cây sắn.

Các nhà nghiên cứu đã tạo ra các cây sắn biến đổi gen (giống NASE 13 phổ biến ở Đông Phi) có khả năng sản xuất ra các đoạn RNA mạch đôi (dsRNA) đặc hiệu. Khi bọ phấn trắng hút nhựa từ lá cây, các đoạn RNA sẽ xâm nhập vào cơ thể chúng và tắt các gen mục tiêu.

Phân tích cây chuyển gen RNAi kháng côn trùng.

Ghi chú:

(A) Cây chuyển gen trong nuôi cấy mô.

(B) Promoter SUC2 điều khiển biểu hiện GUS trong các mô mạch của lá.

(C) Cây chuyển gen RNAi NASE 13 biểu hiện cả dsRNA và siRNA.

(D) Mối tương quan đồng biến có ý nghĩa thống kê giữa mức độ dsRNA và siRNA trong cây chuyển gen RNAi NASE 13 (giá trị delta Ct cao hơn = biểu hiện cao hơn).

(E) Cây chuyển gen RNAi NASE 13 12 tuần tuổi thể hiện kiểu hình bình thường.

(F) Biểu hiện ổn định của dsRNA trong cây chuyển gen RNAi NASE 13 trong hơn hai năm (delta Ct NRI = cây hai năm tuổi; delta Ct TC = cây nuôi cấy mô non).

(G) Mối tương quan đồng biến có ý nghĩa thống kê giữa mức độ biểu hiện của các cấu trúc dsRNA trong hơn hai năm.

Kết quả thử nghiệm cho thấy hiệu quả diệt trừ sâu hại rất ấn tượng: Tỷ lệ chết ở bọ trưởng thành: Lên đến 58% chỉ sau 7 ngày hút nhựa từ lá sắn biến đổi gen. Ngăn chặn sự phát triển của ấu trùng: Hiệu quả lên tới 75-90%, khiến ấu trùng không thể phát triển thành con trưởng thành.

Các phân tích sâu hơn xác nhận rằng mức độ biểu hiện của các gen mục tiêu trong cơ thể bọ phấn trắng đã giảm mạnh (lên đến 2,5 lần), chứng tỏ cơ chế RNAi hoạt động đúng như thiết kế.

Các mô hình mô phỏng quần thể cho thấy công nghệ này có thể kiểm soát hiệu quả sự bùng phát của bọ phấn trắng trên đồng ruộng. Đặc biệt, việc nhắm vào giai đoạn ấu trùng được dự báo sẽ mang lại hiệu quả cao hơn so với chỉ nhắm vào con trưởng thành.

Đây là một bước tiến quan trọng hướng tới việc phát triển các giống sắn bền vững, giúp nông dân Châu Phi bảo vệ mùa màng mà không cần phụ thuộc vào thuốc trừ sâu hóa học đắt tiền và độc hại. Công nghệ này hứa hẹn sẽ là một công cụ mạnh mẽ trong chiến lược quản lý dịch hại tổng hợp, góp phần đảm bảo an ninh lương thực trong khu vực.

Thứ Năm, 2 tháng 4, 2026

Triển vọng giống sắn HL-RS15

Triển vọng giống sắn HL-RS15

Trần Đức Trung - NNMT

Sau nhiều năm lao đao vì bệnh khảm lá, người nông dân Tây Ninh đã có thêm niềm tin mới khi những giống sắn kháng bệnh bước đầu khẳng định hiệu quả trên đồng ruộng.

Ưu điểm vượt trội giống sắn HL-RS15

Những năm trước, bệnh khảm lá sắn từng là “cơn ác mộng” với người trồng ở Tây Ninh. Virus khảm lá gây bệnh làm cây suy yếu, năng suất giảm 20 - 90%, kéo theo thua lỗ triền miên. Có thời điểm, nguy cơ “xóa sổ vùng nguyên liệu” đã hiện hữu, khiến cả nông dân lẫn doanh nghiệp chế biến đứng ngồi không yên.

Tuy nhiên, thay vì buông xuôi, ngành nông nghiệp và nông dân Tây Ninh đã chọn cách chủ động tìm giống mới, thích nghi và thay đổi. Thông qua hợp tác với Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc và các đơn vị khoa học, nhiều giống sắn triển vọng đã được đưa vào khảo nghiệm và nhân rộng. Sau các giống HN1, HN3, HN7, đến nay giống sắn HL-RS15 đang được đánh giá cao tại tỉnh Tây Ninh.

Kết quả ban đầu cho thấy giống sắn HL-RS15 kháng bệnh khảm lá 100%, sinh trưởng tốt trên đất Tây Ninh, năng suất đạt 40 - 45 tấn/ha, hàm lượng tinh bột ổn định. Đây được xem là “cú hích” quan trọng, mở ra hướng đi bền vững cho cây trồng chủ lực của tỉnh.

“Giống sắn HL-RS15 có các ưu điểm nổi bật như: năng suất cao (30-52,7 tấn/ha), hàm lượng tinh bột cao (28-31%), khả năng kháng bệnh tốt (khảm lá, chổi rồng, rệp sáp, thối củ), thời gian sinh trưởng phù hợp (8-10 tháng) và khả năng giữ tinh bột lâu, giúp nông dân yên tâm canh tác và ổn định nguồn nguyên liệu cho chế biến”, Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc Phạm Thị Nhạn cho biết thêm.

Một trong những hộ nông dân đầu tiên được tiếp cận giống mới, ông Nguyễn Thành Vinh, nông dân xã Tân Hội chia sẻ: “Hơn 20 năm gắn bó với cây sắn, tôi đã trải qua nhiều thăng trầm. Vài năm trước, bệnh khảm lá khiến bà con chúng tôi rất lo lắng. Nhưng từ khi đưa giống sắn HL-RS15 vào sản xuất, tôi yên tâm hẳn. Cây khỏe, năng suất ổn định, lại được cán bộ khuyến nông đồng hành, đời sống gia đình cải thiện rõ rệt”.

Không chỉ đổi mới giống, ông cũng như nhiều hộ còn áp dụng tiến bộ kỹ thuật như tưới bằng năng lượng mặt trời, canh tác hữu cơ, liên kết trong Hội Nông dân để cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm. Nhờ đó, chi phí giảm, hiệu quả tăng, tinh thần bà con phấn khởi hơn trước.

Trưởng trạm Khuyến nông và Dịch vụ Nông nghiệp khu vực Tân Châu Dương Thanh Phương cho biết thêm, nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi và kỹ thuật canh tác ngày càng được cải thiện, tổng diện tích trồng sắn trên địa bàn huyện Tân Châu cũ đã vượt 18.500 ha, lớn nhất cả tỉnh. Vụ hè thu năm 2025, nông dân trên địa bàn xuống giống được 12 ha giống sắn HL-RS15. Dự kiến, đến tháng 3/2026, diện tích nhân giống có thể đạt hơn 120 ha, sẵn sàng phục vụ sản xuất đại trà tại khu vục Tân Châu và các khu vực lân cận.

“Việc đưa giống sắn HL-RS15 vào sản xuất không chỉ góp phần đa dạng hóa cơ cấu giống sắn mà còn mở ra cơ hội tăng hiệu quả kinh tế, giảm thiểu rủi ro sâu bệnh hại, bảo đảm năng suất và chất lượng, giúp nông dân yên tâm canh tác. Trạm Khuyến nông khu vực Tân Châu đang tích cực phối hợp các hộ nông dân để mở rộng diện tích trồng, theo dõi đặc tính giống và hoàn thiện quy trình kỹ thuật nhằm chuyển giao đại trà trong thời gian tới”, ông Dương Thanh Phương nhấn mạnh.

Tiếp tục lai tạo tìm kiếm giống mới

Trong nhiều năm qua, cây sắn đã trở thành cây trồng chủ lực của Tây Ninh, góp phần định hình vị thế “thủ phủ sắn” của cả nước. Với trên 60.000 ha, hằng năm cung ứng hàng triệu tấn củ cho các nhà máy chế biến tinh bột và xuất khẩu, sắn đem lại sinh kế cho hàng vạn hộ nông dân. Thế nhưng, đằng sau những con số ấn tượng ấy là những thách thức ngày càng hiện hữu: đất đai bị thoái hoá, giống sắn suy kiệt, dịch bệnh bùng phát và nguy cơ vùng nguyên liệu không còn bền vững.

Theo các chuyên gia nông nghiệp, đặc điểm sinh học và phương thức canh tác sắn chính là nguyên nhân quan trọng dẫn đến thoái hoá đất. Bộ rễ sắn ăn sâu, hút nhiều dưỡng chất, đặc biệt là kali và đạm, khiến đất nhanh chóng cạn kiệt. Việc canh tác liên tục, ít luân canh và thiếu bổ sung phân hữu cơ làm cho đất bạc màu, hữu cơ giảm mạnh.

Nghiên cứu của Viện Thổ nhưỡng Nông hoá chỉ ra: sau 3-4 vụ trồng liên tục, hàm lượng chất hữu cơ trong đất trồng sắn có thể giảm tới 50%. Trong khi đó, vào mùa mưa, tán lá sắn thưa, không che phủ, đất dễ bị xói mòn, rửa trôi. Tàn dư cây trồng không được tận dụng để tái tạo dinh dưỡng mà thường bị bỏ hoặc đốt bỏ, càng làm cho đất nghèo kiệt.

Thoái hóa đất không chỉ làm năng suất giảm sút, mà còn làm thoái hóa giống, tạo điều kiện cho dịch bệnh phát triển mạnh. Đơn cử, bệnh khảm lá sắn do virus gây ra, chưa có thuốc đặc trị, khiến cây suy giảm sức đề kháng. Từ đó, hàng loạt bệnh cơ hội khác như thối thân xì mủ, chổi rồng, rệp sáp, thối cổ rễ… dễ dàng tấn công, làm củ kém chất lượng, năng suất sụt giảm từ 20% đến 90%.

Trong bối cảnh đó, giải pháp được coi là “cứu cánh” cho cây sắn Tây Ninh là lai tạo và chọn giống mới có khả năng kháng bệnh, thích nghi tốt với điều kiện đất đai.

Nói về công tác khảo nghiệm, nghiên cứu, tìm ra giống sắn mới, Thạc sĩ Phạm Thị Nhạn, Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc chia sẻ, để có được một giống mới ưu việt, công tác nghiên cứu, khảo nghiệm phải qua rất nhiều bước và mất rất nhiều thời gian, trung bình phải mất ít nhất 3 đến 5 năm mới tuyển chọn ra giống được công nhận.

 Thời gian qua, Viện đã tích cực phối hợp cùng các đơn vị trong nước cũng như tổ chức quốc tế để tuyển chọn được 6 giống sắn kháng bệnh khảm lá và đã được công nhận ở vùng Đông Nam Bộ. Cùng với đó, giống HL-RS15 tiếp tục phát huy ưu thế và được nhân rộng, nó sẽ trở thành “lá chắn” giúp Tây Ninh bảo vệ 62.000 ha sắn, duy trì vị thế thủ phủ sắn cả nước. Đó cũng là nền tảng để ngành chế biến tinh bột, xuất khẩu sắn ổn định nguồn nguyên liệu, hướng đến phát triển bền vững.

"Thoái hóa giống sắn" là hiện tượng giống sắn bị giảm năng suất, chất lượng và khả năng chống chịu bệnh do sự tích lũy của các khuyết tật di truyền qua quá trình nhân giống vô tính từ hom giống không sạch bệnh. Để khắc phục, cần áp dụng các biện pháp như chọn và nhân giống từ vật liệu sạch bệnh, thu hoạch và bảo quản củ giống đúng kỹ thuật, luân canh cây trồng để giảm thiểu mầm bệnh trong đất.

Thứ Tư, 1 tháng 4, 2026

Ngành sắn trước yêu cầu tái cấu trúc chuỗi cung và truy xuất nguồn gốc

 Ngành sắn trước yêu cầu tái cấu trúc chuỗi cung và truy xuất nguồn gốc

Chu Khôi - VnEconomy

Năm 2025, xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn của Việt Nam đạt trên 3,9 triệu tấn, kim ngạch hơn 1,26 tỷ USD. Tuy nhiên, phía sau những con số ấn tượng đó là hàng loạt thách thức mang tính cấu trúc...

Ngày 28/1/2026, tại Hà Nội, Hội Khoa học Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (VAERD), Hiệp hội Sắn Việt Nam và Tổ chức Forest Trends phối hợp tổ chức hội thảo: "Chuỗi cung ngành sắn Việt Nam: Thực trạng và giải pháp". Tại đây, các chuyên gia đã chỉ ra những thách thức mà ngành sắn đang đối mặt như: năng suất thấp, sản xuất manh mún, phụ thuộc gần như tuyệt đối vào một thị trường xuất khẩu, và đặc biệt là điểm nghẽn lớn về truy xuất nguồn gốc trong bối cảnh các thị trường quốc tế ngày càng siết chặt tiêu chuẩn môi trường và pháp lý.

QUY MÔ LỚN NHƯNG GIÁ TRỊ GIA TĂNG THẤP

Thông tin tại sự kiện, đại diện Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), cho biết đến năm 2025, diện tích trồng sắn của Việt Nam duy trì khoảng 495.000 – 500.000 ha, sản lượng củ tươi đạt 10,2 – 10,5 triệu tấn/năm, năng suất bình quân 20,5 – 21 tấn/ha. Dù năng suất đã được cải thiện nhờ giống mới và tiến bộ kỹ thuật, nhưng vẫn thấp hơn đáng kể so với Thái Lan và Indonesia.

Hệ thống chế biến sắn tại Việt Nam phát triển mạnh về số lượng với khoảng 2.200 - 2.300 cơ sở, tổng công suất thiết kế đạt 2,4 - 2,5 triệu tấn tinh bột/năm. Tuy nhiên, cơ cấu chế biến còn bất hợp lý khi các cơ sở nhỏ, hộ gia đình chiếm tỷ lệ lớn, công suất thực tế chỉ đạt 65- 70%. Xuất khẩu vẫn chủ yếu là sắn lát khô và tinh bột sắn sơ chế, khiến giá trị gia tăng thấp và dễ tổn thương trước biến động thị trường.

"Năng suất thấp, canh tác manh mún và chuỗi cung lỏng lẻo là ba điểm nghẽn lớn nhất của ngành sắn.

Nếu không xử lý đồng thời, ngành sắn sẽ khó đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc và ngày càng rủi ro khi hội nhập”.

Theo báo cáo của Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), trong năm 2025, Trung Quốc chiếm tới 94,1% tổng lượng và 92,6% tổng kim ngạch xuất khẩu sắn của Việt Nam, tương đương 3,7 triệu tấn, trị giá 1,17 tỷ USD. Các thị trường khác như Đài Loan, Malaysia, Philippines chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ.

Mức độ tập trung thị trường quá cao khiến ngành sắn Việt Nam dễ bị tổn thương trước những thay đổi chính sách, tiêu chuẩn kỹ thuật hoặc biến động nhu cầu từ phía Trung Quốc. Đáng chú ý, chính thị trường này cũng đang ngày càng siết chặt yêu cầu về chất lượng, an toàn thực phẩm và đặc biệt là truy xuất nguồn gốc.

TS Hà Công Tuấn, Chủ tịch VAERD, cho biết khó khăn lớn nhất của ngành sắn trong việc đảm bảo truy xuất nguồn gốc nằm ở khâu nguyên liệu. Trong nước, sắn chủ yếu được trồng trên các diện tích nhỏ lẻ, bình quân chỉ 0,5 – 0,6 ha/hộ, tiêu thụ qua thương lái, thiếu thông tin về lịch sử sử dụng đất và giao dịch. Với nguyên liệu nhập khẩu từ Lào và Campuchia, chiếm tới 42% tổng cung, tình trạng thiếu thông tin vùng trồng và bằng chứng giao dịch cũng diễn ra tương tự.

DOANH NGHIỆP PHẢI ĐỨNG VÀO TRUNG TÂM CHUỖI NGÀNH HÀNG SẮN

Theo Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Việt Nam hiện sử dụng chủ yếu ba nhóm giống sắn, song công tác nhân giống, kiểm soát chất lượng và chuyển giao kỹ thuật còn phân tán. Phần lớn diện tích sắn được trồng trên đất dốc, đất nghèo dinh dưỡng, canh tác liên tục nhiều năm nhưng ít được cải tạo, dẫn đến suy thoái đất và giảm năng suất dài hạn.

TS Hà Công Tuấn cho rằng nếu thâm canh sắn thì bắt buộc phải song hành với các biện pháp cải tạo đất và canh tác bền vững. Ngược lại, nếu luân canh tự phát theo tín hiệu giá thị trường, nguy cơ đứt gãy truy xuất nguồn gốc là rất lớn, khó hình thành vùng nguyên liệu ổn định phục vụ chế biến quy mô lớn.

"Trong bối cảnh phần lớn người trồng sắn là đồng bào dân tộc thiểu số, hạn chế về vốn và tiếp cận tài chính, vai trò tổ chức của doanh nghiệp càng trở nên then chốt.

Doanh nghiệp phải đứng vào trung tâm chuỗi giá trị của ngành hàng sắn”.

Theo ông Nghiêm Minh Tiến - Chủ tịch Hiệp hội Sắn Việt Nam, một thực tế đáng chú ý là hiện chưa tới 5% người trồng sắn ký hợp đồng trực tiếp với nhà máy chế biến; hơn 95% sản lượng vẫn giao dịch tự do qua thương lái. Dù cả nước có khoảng 350 - 380 hợp tác xã có thành viên trồng sắn, nhưng số hợp tác xã chuyên ngành sắn chỉ khoảng 40 - 50, và liên kết hợp đồng ổn định mới bao phủ 20 - 25% sản lượng.

“Vấn đề không phải là “xóa” thương lái bằng mệnh lệnh hành chính, mà là doanh nghiệp chế biến có đủ năng lực để trực tiếp tổ chức vùng nguyên liệu, gắn kết với nông dân và hợp tác xã hay không", ông Tiến nêu quan điểm.

"Ngành sắn hiện có quy mô tác động xã hội rất lớn, với số hộ tham gia còn cao hơn nhiều ngành hàng chủ lực khác. Ước tính, có khoảng hơn 1,2 triệu hộ gắn với cây sắn, cao hơn cà phê (khoảng 700.000 hộ), cao su (khoảng 250.000 hộ) và tương đương, thậm chí lớn hơn quy mô hộ trong ngành gỗ. Tuy nhiên, trái với quy mô đó, thông tin và dữ liệu về ngành sắn lại hạn chế, khiến việc quản lý và hoạch định chính sách gặp nhiều khó khăn".

Trong bối cảnh quốc tế, các quy định mới như Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR), cùng các yêu cầu tương tự từ Hoa Kỳ, Anh, Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc đang tạo ra áp lực lớn đối với các ngành hàng nông lâm sản. Dù hiện EUDR chưa áp dụng trực tiếp với sắn, xu hướng siết chặt là rõ ràng và không thể đảo ngược.

Theo Forest Trends, để đáp ứng yêu cầu truy xuất theo định hướng của Chính phủ, ngành sắn cần tái cấu trúc toàn bộ chuỗi cung theo hướng chính thức, minh bạch và có kiểm soát. Hợp tác xã cần được xác định là hạt nhân tổ chức vùng nguyên liệu, gắn chặt với doanh nghiệp chế biến chủ lực; ưu tiên hỗ trợ các hợp tác xã hoạt động thực chất, có khả năng ký kết hợp đồng dài hạn.

Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh chế biến sâu nhằm nâng cao giá trị gia tăng, từng bước giảm tỷ trọng xuất khẩu sắn lát và tinh bột sơ chế, phát triển các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao phục vụ thực phẩm, dược phẩm, công nghiệp và năng lượng sinh học. Cùng với đó là đa dạng hóa thị trường, khai thác hiệu quả các Hiệp định thương mại tự do, giảm dần sự phụ thuộc vào một thị trường duy nhất.