CÂY SẮN VIỆT NAM

Thứ Năm, 25 tháng 9, 2025

Phát triển ngành hàng sắn theo hướng xanh, bền vững

 Phát triển ngành hàng sắn theo hướng xanh, bền vững

Chương Phượng - VnEconomy

Sắn và các sản phẩm từ sắn là một trong 13 sản phẩm nông sản chủ lực của Việt Nam, đứng thứ 3 thế giới về xuất khẩu. Việc ứng dụng mô hình canh tác tuần hoàn và các công nghệ mới sẽ giúp gia tăng giá trị xuất khẩu sắn, phát triển ngành sắn theo hướng xanh, bền vững…

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn trong tháng 6/2025 đạt 350 nghìn tấn, giá trị 109,7 triệu USD. Luỹ kế 6 tháng đầu năm 2025, tổng khối lượng và giá trị xuất khẩu sắn và các sản phẩm đạt 2,3 triệu tấn và 711,5 triệu USD, tăng 68,6% về khối lượng và tăng 12,8% về giá trị so với cùng kỳ năm 2024. 

TRUNG QUỐC LÀ THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU CHỦ LỰC

Đề cập về thị trường xuất khẩu sắn trong nửa đầu năm nay, Bộ Nông nghiệp và môi trường cho biết mặt hàng sắn và các sản phẩm từ sắn của Việt Nam chủ yếu được xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc khi thị trường này chiếm tới 93,4% thị phần. Đài Loan và Malaysia là hai thị trường tiêu thụ lớn tiếp theo với thị phần nhỏ, chiếm lần lượt 1,5% và 1%. So với cùng kỳ năm trước, giá trị xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn sang thị trường Trung Quốc tăng 10,5%, thị trường Đài Loan giảm 33,7%, và thị trường Malaysia tăng 13,4%.

"Giá xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn bình quân của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2025 là 304,1 USD/tấn, giảm 33,1% so với cùng kỳ năm 2024".

Dẫn số liệu từ Tổng cục Hải quan Trung Quốc, Bộ Công Thương Việt Nam cho biết 5 tháng đầu năm 2025, tổng lượng nhập khẩu sắn và tinh bột sắn của Trung Quốc đạt 4,97 triệu tấn, trị giá 1,38 tỷ USD, tăng 79,7% về lượng và tăng 19,5% về trị giá so với cùng kỳ năm trước. Giá bình quân nhập khẩu sắn giảm mạnh 33,5% so với cùng kỳ năm 2024, xuống mức 277,7 USD/tấn.

Đối với sắn lát, trong kỳ, Trung Quốc nhập khẩu hơn 2,62 triệu tấn sắn lát, trị giá 510,59 triệu USD, tăng 118% về lượng và tăng 62,1% về trị giá so với cùng kỳ năm 2024. Giá bình quân nhập khẩu sắn lát vào Trung Quốc ở mức 194,5 USD/tấn, giảm 25,7% so với cùng kỳ năm 2024. Trong kỳ, Thái Lan và Việt Nam tiếp tục là hai nguồn cung sắn lát chủ yếu cho Trung Quốc, chiếm tổng cộng 98,6% tổng lượng nhập khẩu của thị trường này. Trong đó, nước này nhập từ Thái Lan 2 triệu tấn sắn lát với giá trị 388 triệu USD, tăng 116% về lượng và 60% về giá trị so với cùng kỳ. Giá nhập khẩu bình quân từ Thái Lan đạt 194 USD/tấn, giảm 25,9%.

Trong 5 tháng đầu năm 2025, Trung Quốc nhập sắn lát từ Việt Nam đạt 585.918 tấn với kim ngạch 114,4 triệu USD, tăng 115% về lượng và 61% về giá trị. Giá nhập khẩu sắn lát bình quân đạt 195,3 USD/tấn, giảm 25,3% so với cùng kỳ năm trước.

Đối với tinh bột sắn, trong 5 tháng đầu năm 2025, Trung Quốc nhập khẩu 2,35 triệu tấn tinh bột sắn, trị giá 871,07 triệu USD, tăng 50,2% về lượng và tăng 3,6% về trị giá so với cùng kỳ năm 2024. Dù lượng nhập khẩu tăng mạnh nhưng kim ngạch chỉ nhích nhẹ lên do giá nhập khẩu giảm sâu. Trong kỳ, giá bình quân nhập khẩu tinh bột sắn vào Trung Quốc ở mức 370,7 USD/ tấn, giảm 31% so với cùng kỳ năm 2024.

Trong 5 tháng đầy năm 2025, Việt Nam là nhà cung cấp tinh bột sắn lớn nhất cho Trung Quốc với hơn 1,14 triệu tấn, chiếm 48,84% tổng lượng tinh bột sắn nhập khẩu vào Trung Quốc trong kỳ. So với cùng kỳ năm trước, lượng nhập khẩu tinh bột sắn từ Việt Nam tăng 99%. Kim ngạch nhập khẩu tinh bột sắn từ Việt Nam cũng tăng 36,1% so với cùng kỳ, lên 409 triệu USD. Giá nhập khẩu bình quân đạt 357,2 USD/tấn, giảm 31,6% so với cùng kỳ năm trước.

Thái Lan là thị trường cung cấp tinh bột sắn lớn thứ hai của Trung Quốc với 806.261 tấn, đạt 322,2 triệu USD, tăng lần lượt 13,3% về lượng và giảm 19% về giá trị so với cùng kỳ. Lượng tinh bộ sắn mà Trung Quốc nhập khẩu từ Lào đạt 351.976 tấn với giá trị 123,2 triệu USD, tăng lần lượt 52,9% và 4,6% so với cùng kỳ năm trước. Giá nhập khẩu bình quân đạt 350,3 USD/tấn, giảm 31,6%.

TRIỂN KHAI MÔ HÌNH SẢN XUẤT SẮN TUẦN HOÀN

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cả nước hiện có 517,8 nghìn ha diện tích sắn, sản lượng đạt 10,5 triệu tấn củ tươi/năm. Cây sắn cũng mang lại giá trị xuất khẩu từ 1 – 1,2 tỷ USD/ năm. Tuy nhiên, trồng sắn, đặc biệt là khi canh tác ồ ạt và không bền vững, có thể dẫn đến tình trạng đất bị kiệt quệ. Điều này xảy ra do sắn là loại cây có khả năng hút nhiều dinh dưỡng từ đất, làm giảm độ phì của đất do độ che phủ không cao và dễ gây xói mòn.

Nhằm khắc phục tình trạng này, cuối năm 2024, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đã phê duyệt Dự án chuyển đổi hệ thống sản xuất sắn ở Việt Nam thông qua canh tác tuần hoàn và quản lý chuỗi giá trị tinh bột sắn thông minh.

Mới đây, ngày 9/7/2025, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Hoàng Trung đã tiếp đoàn công tác JICA, do GS Takuro Shinano, Trưởng dự án Chuyển đổi hệ thống sản xuất sắn ở Việt Nam thông qua canh tác tuần hoàn phía Nhật Bản, làm trưởng đoàn. 

Báo cáo tại cuộc gặp, GS Takuro Shinano cho biết Dự án được thực hiện thông qua Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) và Cơ quan Khoa học và Công nghệ Nhật Bản (JST), chia làm 4 hợp phần:  Lựa chọn các nguồn carbon có khả năng tăng hấp thụ carbon trong đất; Thiết lập kỹ thuật đo hàm lượng carbon trong đất dựa trên điều kiện đồng ruộng; Thiết lập tổng hợp biện pháp nông nghiệp tái sinh tăng lưu trữ carbon trong đất; Xây dựng chiến lược toàn diện để cung cấp tinh bột bền vững dựa trên gói nông nghiệp tái sinh cho phép tích trữ carbon.

Dự án hướng tới xây dựng một nền tảng kỹ thuật vững chắc cho Việt Nam, với sự hỗ trợ và chuyển giao công nghệ từ các đối tác Nhật Bản và Trung tâm Nông nghiệp nhiệt đới quốc tế (CIAT), tạo tiền đề cho việc phát triển sản xuất sắn theo hướng phát thải thấp. Dự kiến, mô hình sẽ được triển khai từ tháng 9/2025, song song bố trí thời gian phù hợp đào tạo ngắn hạn cho cán bộ kỹ thuật Việt Nam tại Nhật Bản, và hoàn thiện lắp đặt thiết bị tại phòng thí nghiệm, cung cấp trang thiết bị trong phòng phân tích và thiết kế ở Tây Ninh. 

"Đoàn công tác đã làm việc với Sở Nông nghiệp và Môi trường Tây Ninh tiến hành điều tra, khảo sát và lựa chọn lại điểm thí nghiệm mô hình của dự án. Khu vực được chọn có điều kiện tự nhiên thuận lợi, đủ nước tưới, đảm bảo an toàn lao động và có tiềm năng nhân rộng", GS. Takuro Shinano chia sẻ.

Tại cuộc họp, Thứ trưởng Hoàng Trung đánh giá cao ý nghĩa và mục tiêu của dự án giúp phát triển thành công mô hình canh tác tuần hoàn trong sản xuất sắn đầu tiên ở Việt Nam, hỗ trợ trực tiếp cho Đề án Phát triển bền vững ngành hàng sắn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 của Bộ. 

“Điểm quan trọng của dự án là việc tích hợp phương pháp đo đếm hàm lượng carbon (MRV), giám sát, quản lý thông minh chuỗi giá trị. Việc thiết lập vùng canh tác tuần hoàn nhằm chuyển đổi hệ thống sản xuất sắn sẽ được thực hiện thông qua xác định các giống sắn dự trữ carbon, xây dựng các phương pháp canh tác tuần hoàn và giám sát thông số đất - cây trồng bằng công nghệ cao như: cảm biến, dữ liệu vệ tinh và máy bay không người lái”, Thứ trưởng Hoàng Trung nhấn mạnh.

CIAT và ACIAR đồng hành nâng tầm cây sắn Việt Nam

 CIAT và ACIAR đồng hành nâng tầm cây sắn Việt Nam

Trọng Hiển, Ngọc Hùng - NNMT

Với nền tảng là Đề án Phát triển bền vững ngành hàng sắn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, ngành sắn Việt Nam đang đứng trước những cơ hội lớn. Chắc chắn rằng, sự đồng hành liên tục của các đối tác quốc tế như CIAT và ACIAR sẽ tiếp tục là nguồn lực quý báu giúp Việt Nam thực hiện thành công các mục tiêu chiến lược, đưa ngành sắn phát triển lên một tầm cao mới, hiệu quả, bền vững và có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường toàn cầu

Từ một cây lương thực giá trị thấp, sắn đã trở thành ngành hàng xuất khẩu tỷ đô, xây dựng được nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững trong tương lai.

Hơn ba thập kỷ qua, bằng sự hợp tác chiến lược và bền bỉ, Trung tâm Nông nghiệp Nhiệt đới Quốc tế (CIAT) trong vai trò đối tác nghiên cứu và Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc tế Australia (ACIAR) với vai trò nhà tài trợ đã đóng góp then chốt vào việc đưa cây sắn Việt Nam từ một cây lương thực giá trị thấp trở thành ngành hàng xuất khẩu tỷ đô, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững trong tương lai.

Từ những hạt giống đầu tiên đến cuộc cách mạng năng suất

Trước những năm 1990, cây sắn ở Việt Nam chủ yếu được trồng với các giống địa phương như Gòn, Chuối, Dù, Xanh Vĩnh Phú... vốn chỉ phục vụ cho nhu cầu ăn tươi, chăn nuôi nhỏ lẻ với năng suất củ và hàm lượng tinh bột rất thấp, chỉ đạt 7 - 8 tấn/ha.

Bước ngoặt lịch sử đến vào năm 1987 khi Giáo sư Kazuo Kawano - đại diện CIAT ký biên bản hợp tác đầu tiên với Viện Sinh học nhiệt đới, mở đầu cho chương trình phát triển giống sắn tại Việt Nam. Ngay sau đó, hơn 500 dòng sắn lai đầu tiên từ nguồn gen quý giá của CIAT đã được đưa về Việt Nam để khảo nghiệm, đánh giá tại Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc (thuộc Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam).

Chương trình nhanh chóng được mở rộng hợp tác với một mạng lưới các viện nghiên cứu, trường đại học trên cả nước, hình thành nên mạng lưới nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho cây sắn của Việt Nam.

Kết quả của sự hợp tác này là một cuộc cách mạng thực sự. Hàng loạt giống sắn ưu tú do CIAT cung cấp và các nhà khoa học Việt Nam chọn tạo đã được công nhận để đưa vào sản xuất, tiêu biểu như KM60, SM937-26, KM98-1, KM98-7, Sa21-12, KM101, KM419, KM440

Đặc biệt, giống sắn KM94 có nguồn gốc CIAT/Colombia nhập nội vào Việt Nam trong nguồn gen khảo nghiệm liên Á đã trở thành một "huyền thoại", chiếm tới 40 - 50% diện tích sắn ở phía Nam và 70 - 80% ở phía Bắc, góp phần nâng năng suất sắn trung bình cả nước lên trên 20 tấn/ha, thậm chí nhiều vùng đạt 30 - 35 tấn/ha.

Nhờ đó, Việt Nam từ một nước có năng suất sắn thấp đã vươn lên mạnh mẽ với hơn 90% trong tổng số trên 500.000 ha sắn hiện nay được trồng bằng các giống có nguồn gốc từ CIAT, đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu ổn định khoảng 1 tỷ USD mỗi năm.

Đối phó thách thức mới bằng hợp tác sâu rộng

Khi ngành sắn đang trên đà phát triển, những thách thức mới đã xuất hiện, đặc biệt là sự bùng phát của các dịch hại nguy hiểm. Từ năm 2017, bệnh khảm lá sắn (CMD) đã lây lan nhanh chóng, gây thiệt hại nặng nề.

Trước bối cảnh đó, sự hợp tác giữa CIAT và các viện nghiên cứu tại Việt Nam dưới sự tài trợ quan trọng của ACIAR đã kịp thời triển khai dự án "Thiết lập các giải pháp bền vững đối với bệnh hại trên cây sắn ở khu vực Đông Nam Á" giai đoạn 2019 - 2024.

Dự án đã giúp Việt Nam tiếp cận nguồn gen kháng bệnh từ CIAT/Colombia. Sau nhiều năm nỗ lực, các nhà khoa học đã chọn tạo và công nhận thành công các giống sắn kháng tuyệt đối bệnh khảm lá như HN1, HL-RS15..., mang lại hi vọng lớn cho nông dân.

Chưa dừng lại ở đó, ACIAR tiếp tục phê duyệt khoản tài trợ cho CIAT và các đơn vị nghiên cứu ở Việt Nam, Lào, Campuchia để triển khai dự án “Hệ thống sản xuất sắn bền vững và chống chịu bệnh hại khu vực sông Mê Kông” giai đoạn 2023 – 2028. Mục tiêu hướng tới của dự án nhằm chung tay xây dựng và nâng cao chuỗi giá trị ngành sản xuất sắn ở khu vực trong thời gian tới.

Bên cạnh chọn giống, CIAT còn chuyển giao các công nghệ tiên tiến như nhân nhanh giống bằng kỹ thuật Invitro và nhà màng Tunnel giúp rút ngắn thời gian cung cấp hom giống sạch bệnh ra sản xuất, nhanh hơn tới 15 lần so với phương pháp truyền thống. Các quy trình canh tác bền vững như trồng xen, trồng cỏ Vetiver chống xói mòn... cũng được nghiên cứu và phổ biến rộng rãi.

Nền tảng vững chắc cho chiến lược quốc gia

Những thành tựu to lớn từ sự hợp tác hiệu quả với CIAT và sự hỗ trợ thiết thực của ACIAR đã tạo ra nền tảng khoa học và thực tiễn vững chắc, góp phần đưa cây sắn trở thành một trong những cây trồng chiến lược của quốc gia.

Minh chứng rõ nét nhất cho tầm quan trọng này là việc ngày 17/4/2024, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đã ký Quyết định số 1115/QĐ-BNN-TT phê duyệt Đề án “Phát triển bền vững ngành hàng sắn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050”.

Đề án đặt mục tiêu cụ thể đến năm 2030, diện tích trồng sắn cả nước ổn định ở mức 480.000 - 510.000 ha, tổng sản lượng củ tươi đạt 11,5 - 12,5 triệu tấn. Quyết định này không chỉ khẳng định vị thế của ngành sắn mà còn mở ra một giai đoạn phát triển mới, đòi hỏi sự đầu tư mạnh mẽ hơn nữa vào khoa học công nghệ, chế biến sâu và xây dựng chuỗi giá trị bền vững.

Hành trình hợp tác hơn 30 năm giữa Việt Nam với CIAT và các đối tác tài trợ như ACIAR là một hình mẫu thành công về chuyển giao khoa học công nghệ và hợp tác quốc tế trong nông nghiệp. Từ những giống sắn đầu tiên đến các giải pháp công nghệ cao, sự hợp tác này đã góp phần thay đổi số phận của một cây trồng, tạo sinh kế cho hàng triệu nông dân và đóng góp quan trọng vào nền kinh tế đất nước.